|
Tel: 0978 671 927
|
|
Tel: 0982 048 004
|
|
Tel: 0986 574 909
|
|
Tel: 0937 806 466
|
|
|
Tổng đài: 1900 1776 |
|
|
(08) 3894 1794 |
|
|
info@vemaybaysaigon.vn |
=========================
Giờ làm việc:
8h đến 21h: Thứ
2 - Thứ 6
![]() | Hà Nội 32oC ~ 63oF |
![]() | Hồ Chí Minh 29oC ~ 79oF |
![]() | Đà Nẵng 31oC ~ 62oF |
![]() | Nha Trang 28oC ~ 82oF |
Khu vực miền Bắc
1. Sân bay Điện Biên Phủ 
Cảng hàng không quốc tế Điện Biên Phủ là sân bay ở thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, có tọa độ 21°23’41′ ‘ vĩ Bắc, 103°00’10′ ‘ kinh Đông. Mã IATA của sân bay này là DIN.
Sân bay có một đường cất hạ cánh dài 183m, rộng 30m, bề mặt bê tông xi măng. Sân đỗ máy bay (apron) có diện tích 522m². Nhà ga hành khách rộng 2.400m².
2. Sân bay Nội Bài
Sân bay quốc tế Nội Bài thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 45km về phía Tây Bắc, là cảng hàng không quốc tế ở miền Bắc Việt Nam. Mã ICAO là VVNB. Sân bay này có một sân bay dự bị là Sân bay quốc tế Cát Bi (Hải Phòng).
Nơi đây là cửa ngõ giao thông quan trọng không chỉ của thủ đô Hà Nội mà còn của cả miền Bắc. Nó giữ vị trí lớn thứ hai trong toàn thể các sân bay của Việt Nam hiện nay, sau sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ở TP.HCM.
Tên giao dịch chính thức của sân bay Nội Bài là Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài (Noi Bai International Airport). Sân bay này do Cụm cảng Hàng không phía Bắc (NAA), một cơ quan của Cục Hàng không dân dụng Việt Nam quản lý.
Sân bay quốc tế Nội Bài, nguyên là một căn cứ không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam. Ngày 28/02/1977, Tổng Cục Hàng không dân dụng Việt Nam đã ra quyết định thành lập sân bay quốc tế Nội Bài ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đến ngày 2/1/1978, sân bay chính thức mở cửa hoạt động và đón chuyến bay quốc tế đầu tiên hạ cánh. Năm 1995 nhà ga hành khách T1 được xây dựng và khánh thành vào tháng 10/2001.
Tọa độ sân bay ở 21°13’18 vĩ Bắc, 105°36’16 kinh Đông.
Sân bay có hai đường băng để cất cánh và hạ cánh: Đường 1A dài 3.200m, đường 1B dài 3.800m, xây dựng theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (tên viết tắt bằng tiếng Anh là ICAO). Có 3 sân đỗ máy bay A1, A2, A3 với tổng diện tích 165.224m² và một nhà ga hành khách T1 với tổng diện tích 90.000m².

Nhà ga T2 đang được xây dựng có 4 tầng, tổng diện tích sàn 90ha. Công trình đã chính thức khởi công. Dự kiến tổng kinh phí đầu tư khoảng 31 tỉ yên. Theo quy hoạch chung đến năm 2010, nhà ga T2 sẽ đi vào hoạt động.
Vào tháng 2/2006 vừa qua, phía Nhật Bản đã đề nghị một dự án xây dựng một tuyến đường sắt nối Hà Nội với sân bay, có sử dụng cầu Thăng Long. Chi tiết của dự án đã hoàn thiện và hiện đang triển khai các bước tiếp theo. Sau khi hoàn thành, tuyến đường này sẽ rút ngắn khoảng cách từ Nội Bài về Hà Nội một cách đáng kể.
Sân bay quốc tế Nội Bài đạt công suất 15-20 triệu hành khách năm, trở thành một trong những trung tâm vận tải hàng không trong khu vực.
Phí sân bay cho các chuyến bay quốc tế là 14 USD. Có thể đi từ sân bay Nội Bài về Hà Nội bằng taxi 4 chỗ, 7 chỗ (giá từ 150.000VND), MiniBus 12 chỗ (giá 22.000VND) hoặc xe buýt (5.000VND) hoặc đi xe ôm (khoảng 50.000VND).
3. Sân bay Cát Bi
Sân bay Cát Bi là một sân bay cấp III, thuộc thành phố Hải Phòng, miền Bắc Việt Nam. Sân bay nằm cách trung tâm thành phố 5 km. Mã ICAO: HPH.
Chiều dài đường cất hạ cánh: chính 2.400m, phụ: 1.500m. Chiều rộng đường cất hạ cánh: chính 50m, phụ 15m. Kích thước đường lăn chính: 1.600×15(m). Kết cấu đường cất hạ cánh: bê tông xi măng, bê tông nhựa. Sân đỗ máy bay: 3 chiếc. Sân chứa máy bay: 80 chiếc.
Sân bay này có tể tiếp nhận các loại máy bay lớn như Boeing 767-300 ER, B777, B747-400, Airbus 320…
Sân bay Cát Bi có hướng nâng cấp, cải tạo thành sân bay cấp I và là sân bay quốc tế trong khu vực.
4. Sân bay Nà Sản
Sân bay Nà Sản (mã IATA: SQH, mã ICAO: VVNS) là một sân bay ở thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La, Tây Bắc Việt Nam. Hiện nay sân bay này tạm đóng cửa để nâng cấp .
5. Sân bay Vinh
Cảng hàng không Vinh là sân bay ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, có tọa độ 18°44’44′ ‘ vĩ Bắc, 105°39’50′ ‘ kinh Đông. Mã IATA là VII (theo tên của thành phố Vinh).
Sân bay này do Cụm cảng hàng không miền Bắc (NAA), một cơ quan của Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, quản lý.
Sân bay có một đường cất hạ cánh dài 2400m, rộng 45m, bề mặt bê tông at-phan. Sân đỗ máy bay (apron) có diện tích 30.000m². Nhà ga hành khách rộng 2400m².
Sắp tới sân bay này sẽ được nâng cấp và mở thêm một số tuyến bay mới, như Vinh – Đông Bắc Thái Lan. Chính phủ dự kiến sẽ mở rộng sân bay Vinh thành sân bay quốc tế với quy mô lớn, mở các tuyến bay đi Trung Quốc, Đông Bắc Á và các nước khác.
Khu vực miền Trung
6. Sân bay Đồng Hới
Sân bay Đồng Hới hay Cảng Hàng không Đồng Hới là sân bay thuộc thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Mã sân bay IATA là VDH.
Thực dân Pháp xây dựng sân bay này vào thập niên 1930 với đường băng làm bằng đất. Trong giai đoạn 1930 – 1954, thực dân Pháp sử dụng sân bay này để tấn công quân Việt Minh ở khu vực Bắc Trung Bộ và bắn phá Nam Lào. Đến giai đoạn 1960 – 1975, quân đội miền Bắc Việt Nam lại dùng để trung chuyển vũ khí, đạn dược, quân nhân vào chiến trường miền Nam. Sau 1975, sân bay Đồng Hới được sử dụng cho trực thăng quân đội và cứu hộ thiên tai nhưng không thường xuyên và gần như bỏ hoang.
Sân bay này được cho xây dựng lại vào ngày 30/8/2006 và đưa vào sử dụng ngày 18/5/2008 tại Lộc Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Sân bay nằm về phía Bắc, cách trung tâm Đồng Hới 6km, gần giáp bờ Biển Đông và có đường băng gần như song song với quốc lộ 1A. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt quy hoạch mở rộng sân bay này để có thể đón các loại máy bay cỡ lớn hơn.
Đường băng sân bay dài 2,4 km, rộng 45m, theo tiêu chuẩn 4D của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO), công suất 300 khách/giờ cao điểm, năng lực phục vụ 500.000 khách/năm. Sân bay Đồng Hới có thể tiếp nhận các máy bay tầm trung Airbus 320, Airbus A321 hoặc tương đương. Đây là một trong những sân bay chính của khu vực Bắc Trung bộ.
Việc mở rộng phát triển sân bay này sẽ giúp tỉnh Quảng Bình có điều kiện để phát triển toàn diện cơ cấu kinh tế của minh. Sân bay này cũng giúp đưa con đường di sản miền Trung như: Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An và Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên đến với thế giới qua con đường phát triển du lịch.
7. Sân bay Chu Lai
Sân bay Chu Lai là sân bay ở tỉnh Quảng Nam, nằm trong khu kinh tế mở Chu Lai. Mã IATA là VCL.
Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, đây là Căn cứ không quân Chu Lai của Không lực Việt Nam Cộng Hòa và Không lực Hoa Kỳ.
Ngày 22/2/2004, nhà ga hành khách được khởi công xây dựng. Ngày 22/3/2005, chuyến bay thương mại đầu tiên từ Tân Sơn Nhất đã hạ cánh xuống đây.
Sân bay Chu Lai có diện tích lớn nhất trong các sân bay Việt Nam, với 3.000ha, đường băng dài 3.050m. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, sắp tới sân bay này sẽ được đầu tư 11.000 tỷ đồng để trở thành sân bay vận chuyển hàng hóa quốc tế. Với mức độ đầu tư như vậy, sân bay Chu Lai sẽ có công suất thiết kế 4 triệu lượt khách và 5 triệu tấn hàng mỗi năm.
8. Sân bay Đà Nẵng
Sân bay quốc tế Đà Nẵng nằm ở quận Hải Châu, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 5km, là điểm bay quan trọng của cả khu vực miền Trung Việt Nam.
Tên giao dịch chính thức là Cảng Hàng không Quốc tế Đà Nẵng (Danang International Airport). Sân bay này do Cụm Cảng Hàng không miền Trung, một cơ quan của Cục Hàng không dân dụng Việt Nam quản lý.
Sân bay được xây dựng từ năm 1940. Trong thời gian chiến tranh Việt Nam cho đến 1975, sân bay Đà Nẵng là Căn cứ Không quân của quân đội Mỹ và Không lực Việt Nam Cộng Hòa.
Cảng hàng không quốc Đà Nẵng có hai đường băng cất hạ cánh, được lắp đặt các trang thiết bị hiện đại (đèn tín hiệu; các hệ thống phù trợ dẫn đường và hạ cánh chính xác- ILS, DVORDME, NDB; các hệ thống radar sơ cấp-thứ cấp hiện đại; các hệ thống quan trắc và phát tin dự báo khí tượng, hệ thống thường trực khẩn nguy…) có khả năng phục vụ các loại máy bay thương mại cỡ lớn như Boeing 747, Boeing 777, Airbus A340, Airbus A330, Antonov 124… cất, hạ cánh trong mọi điều kiện thời tiết..
Sân bay quốc tế Đà Nẵng là một trong ba cảng hàng không của Việt Nam có cửa khẩu quốc tế. Năm 2007, sân bay này đã phục vụ 1,45 triệu khách thông qua, xếp thứ 3 sau Tân Sơn Nhất – TP.HCM: 11 triệu, Nội Bài – Hà Nội: 6 triệu.
Hiện có 3 hãng hàng không nội địa và 4 hãng hàng không quốc tế có đường bay đến sân bay quốc tế Đà Nẵng. Sắp tới đây, khi mà 2 hãng hàng không VietJetAir và Air Speed Up đi vào hoạt động, sân bay này có thể đón hơn 2 triệu khách/năm.
Nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng đang được xây dựng. Việc xây dựng sẽ kéo dài trong 2 năm (đến năm 2010). Sau khi hoàn thành, cùng với nhà ga hiện tại, sân bay này sẽ có năng lực đón tiếp 6 triệu khách/năm, tiếp nhận 400.000-1 triệu tấn hàng/năm. Lúc đó, sân bay Đà Nẵng sẽ là cảng hàng không trung chuyển trong khu vực .
9. Sân bay Phú Bài
Sân bay quốc tế Phú Bài thuộc thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế nằm cách thành phố Huế 15km về phía Nam . Mã IATA là HUI. Tọa độ: 16°24′06″N, 107°42′10″E.
Sân bay quốc tế Phú Bài được xây dựng từ thời thực dân Pháp. Ngày 16/8/2007, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, sân bay Phú Bài trở thành sân bay quốc tế thứ 4 tại Việt Nam (chính thức công bố vào ngày 1/9/2007).
Sân bay quốc tế Phú Bài hiện có đường băng dài 2.800m, rộng 45m; có đèn chiếu sáng phục vụ các chuyên bay đêm; có thể tiếp nhận các máy bay tầm trung như Airbus A320, Boeing 747. Sân bay này xếp thứ 4 tại Việt Nam về số lượng. Dự kiến đến năm 2010, số lượng khách thông qua sân bay này sẽ vượt quá 1 triệu người.
10. Sân bay Cam Ranh
Sân bay quốc tế Cam Ranh cách Nha Trang 30km là sân bay dân sự chính phục vụ Cam Ranh và Nha Trang. Mã IATA là CXR. Tọa độ 11°59′53″N, 109°13′10″E.
Sân bay Cam Ranh do quân đội Hoa Kỳ xây dựng và là căn cứ Không quân Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Năm 1973, sau Hiệp định Paris, Hoa Kỳ trao căn cứ này lại cho Không lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau 1975, sân bay Cam Ranh tiếp tục được sử dụng vào mục đích quân sự cho tới năm 2004. Đến ngày 19/5/2004, sân bay Cam Ranh đón chuyến bay dân sự đầu tiên, bay từ Hà Nội thay thế cho sân bay Nha Trang nằm trong nội thị thành phố bị hạn chế về diện tích và vì lý do an toàn.
Ngày 16/8/2007, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định nâng cấp Cảng Hàng không Cam Ranh trở thành Cảng Hàng không Quốc tế (cùng với sân bay Phú Bài – Huế). Năm 2007, sân bay này phục vụ khoảng 500.000 khách, xếp thứ 5 trong các sân bay tại Việt Nam. Từ tháng 6/2008, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay ban đêm.
11. Sân bay Pleiku
Sân bay Pleiku là một sân bay nhỏ tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Tây Nguyên do Cụm cảng Hàng không miền Trung quản lý. Mã IATA là PXU. Mã ICAO là VVPK.
Sân bay có đường băng dài 1.817m có thể tiếp nhận những máy bay tầm ngắn như ATR72.
12. Sân bay Phù Cát
Sân bay Phù Cát là một sân bay nhỏ nằm ở Bình Định do Cụm Cảng Hàng không miền Trung quản lý. Mã IATA là UIH. Mã ICAO là VVPC
13. Sân bay Đông Tác
Sân bay Đông Tác thuộc thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trước năm 1975, đây là căn cứ không quân quan trọng của Không lực Hoa Kỳ.
Hiện nay, các chuyến bay xuất phát từ sân bay này đều sử dụng loại máy bay tầm thấp do Âu Châu sản xuất là ATR 72 với động cơ cánh quạt và sức chứa 60 chỗ ngồi. Sân bay có 3 đường cất hạ cánh (2.835m, 844m và 2.900 m).
Theo quy hoạch phát triển của Cục cảng Hàng không dân dụng Việt Nam, đến năm 2015 sân bay Tuy Hòa sẽ trở thành một sân bay quan trọng có thể đón được các loại máy bay tầm trung của Boeing hay Airbus A320.
14. Sân bay Buôn Ma Thuột
Sân bay Buôn Ma Thuột (IATA: BMV, ICAO: VVBM) là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự tại thành phố Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột), tỉnh Đaklak, Tây Nguyên.
Sân bay có đường băng dài 3000 m, rộng 45 có thể tiếp nhận những máy bay tầm ngắn như ATR72, F70, trung như A320, A321, B767 và có đèn chiếu sáng phục vụ bay đêm. Sân bay này do cụm cảng hàng không miền Nam quản lý. Trước 1975, đây là sân bay quân sự của Không quân Hoa kỳ và Không lực Việt Nam Cộng hòa.
Vị trí địa lý
Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột (Tên giao dịch tiếng Anh là : Buon Ma Thuot Airport; Tên viết tắt là : BMV) nằm ở 12o 40’ 07” Vĩ Bắc; 108o 06’ 41” Kinh Đông. Cảng Hàng không thuộc địa phận xã Hoà Thắng, tỉnh Đắk Lắk, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 7km về phía Đông Nam (tại km7 quốc lộ 27).
Cơ sở hạ tầng
Trước năm 1997, Cảng Hàng không Buộn Ma Thuột có một đường hạ cất cánh với kích thước 1.800 mét x 30 mét được cải tạo từ tháng 7/1997; có 1 đường lăn nối giữa đường hạ cất cánh và sân đỗ máy bay với kích thước 250m x 15m được cải tạo từ tháng 1/1997; sân đỗ máy bay kích thước 120m x 90m có thể tiếp nhận 2 máy bay ATR 72 hoặc Fokker 70 được cải tạo từ tháng 1/1997; Nhà ga hành khách nằm sát sân đỗ máy bay được cải tạo từ năm 1995 với kích thước 24m x 64m, diện tích 1536m2, đảm bảo tiếp nhận 120 hành khách/giờ cao điểm.
Cảng Hàng không Buộn Ma Thuột đã tiếp tục đầu tư nâng cấp, cải tạo đường hạ cất cánh có chiều dài 3.000 mét, rộng 45 mét với các trang thiết bị phụ trợ, đèn đêm, cũng như đầu tư mới thiết bị như xe thang, xe nâng hàng, xe băng chuyền đảm bảo cho cảng hàng không này đáp ứng việc khai thác của các máy bay A320, A321 và các loại máy bay quân sự hiện đại cả ngày và đêm, sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng khu vực Tây Nguyên.
15. Sân bay Liên Khương
Sân bay Liên Khương là một sân bay dân sự tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, cách thành phố Đà Lạt khoảng 30 km về phía nam.
Hiện nay sân bay có một đường cất hạ cánh dài 3.250 m, có thể đón các loại máy bay tầm ngắn như Fokker, ATR72, A320/321.
Vị trí địa lý
Cảng hàng không Liên Khương có tên giao dịch tiếng Anh là Lien Khuong Airport ( tên viết tắt là DLI ) nằm ở tọa độ 11° 45’15” vĩ bắc và 106°25’09” kinh đông, thuộc thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 28km về phía Bắc và trung tâm thị trấn Liên Nghĩa 4km về phía Nam.
Cảng hàng không Liên Khương tiếp giáp phía Bắc với quốc lộ 27 đi Đắc Lắc, phía Đông bắc giáp quốc lộ 22 đi thành phố Đà Lạt, phía Tây và Nam giáp với đồi núi và thung lũng trống. Cao độ cảng hàng không Liên Khương là 962m so với mặt nước biển.
Cơ sở hạ tầng
Cảng hàng không Liên Khương có một đường hạ cất cánh dài 2.350 mét, rộng 37 mét; Một đường lăn dài 94mét, rộng 19mét; Sân đậu máy bay có diện tích 23.100m2 với 5 vị trí đậu cho máy bay ATR 72 và Fokker 70; Sân đậu ôtô có diện tích 1.478m2. Nhà ga hành khách có diện tích 1.000m2. Trang thiết bị phục vụ mặt đất có xe Nạp điện tàu bay, xe chở khách, xe chở hàng, xe cứu thương, xe cứu hỏa.
Ngày 2/9/2003 khởi công dự án “ Cải tạo mở rộng, nâng cấp đường HCC, đường lăn, sân đỗ máy bay- cảng hàng không Liên Khương” do Cụm cảng hàng không miền Nam làm chủ đầu tư, quy mô sau khi hoàn thành đảm bảo khai thác được các loại máy bay dân dụng tầm trung như A.320, A.321 và tương đương, cảng hàng không đạt tiêu chuẩn cấp 4C và sân bay quân sự cấp 2.
Định hướng phát triển
Xác định rõ Cảng hàng không Liên Khương có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, chính trị của Lâm Đồng cũng như của cả khu vực Phía Nam Tây Nguyên nên Cục hàng không Việt Nam, Cụm cảng hàng không miền Nam đã triển khai đầu tư Dự án xây dựng mới đường hạ cất cánh dài 3.250m, rộng 45m, cải tạo đường hạ cất cánh hiện hữu thành đường lăn, sân đậu máy bay có sức chứa 6-8 máy bay loại tầm trung để phục vụ các loại máy bay B.767, A.320, A.321.Dự kiến một phần công trình sẽ được đưa vào khai thác trong quý 3 năm 2006.
Để đồng bộ cơ sở hạ tầng cảng hàng không Liên Khương, hiện nay Cụm cảng hàng không miền Nam cũng đang khẩn trương triển khai Dự án xây dựng nhà ga hành khách mới tại đây dự kiến được bố trí thành 2 cao trình tách biệt, phục vụ cả hành khách quốc tế và quốc nội. Ga quốc tế và quốc nội nằm về 2 cánh của nhà ga, có tổng diện tích là 12.330m2 để đảm bảo đến năm 2025, Cảng hàng không Liên Khương đáp ứng phục vụ công suất 2.500.000 hành khách/năm.
16. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (trước đây được gọi là Phi trường Tân Sơn Nhứt) là cảng hàng không quốc tế ở miền Nam Việt Nam.
Hiện nay, đây là sân bay lớn nhất của Việt Nam về mặt diện tích (800 ha/1.977 acres so với diện tích 650 ha/1.606 acres của Sân bay quốc tế Nội Bài và Sân bay quốc tế Đà Nẵng và về mặt công suất nhà ga (với công suất từ 15-17 triệu lượt khách mỗi năm, so với công suất hiện tại của Nội Bài là 6 triệu, Sân bay Đà Nẵng là 2 triệu, và cũng là sân bay có lượng khách lớn nhất,
Năm 2007 đã có 11 triệu lượt khách thông qua, chiếm 55% tổng lượng khách (20 triệu) trong các sân bay Việt Nam. Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 8 km về phía bắc, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là đầu mối giao thông quan trọng của cả miền Nam.
Tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Sân bay này thuộc sự quản lý của Cụm cảng hàng không miền Nam (SAA), một cơ quan của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.
- Mã IATA: SGN
- Mã ICAO: VVTS
Lịch sử
Được xây dựng năm 1930 ở làng Tân Sơn Nhất.
Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933, chuyến bay này kéo dài 18 ngày.
Năm 1938 Pháp cho thành lập Sở Hàng không Dân dụng.
Năm 1956 Mỹ cho xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m, bằng bê tông. Trong khi đó sân bay do Pháp xây dựng năm xưa dài hơn 1500 m, bằng đất đỏ.
Trong Chiến tranh Việt Nam, sân bay là căn cứ quân sự quan trọng của Quân đội Hoa Kỳ và của Không lực Việt Nam Cộng hoà. Sau sự kiện 30 tháng 4, sân bay tiếp tục được mở rộng để khai thác các chuyến bay trong nước và quốc tế.
Hoạt động
Hiện có hơn 45 hãng hàng không đang có đường bay đến Tân Sơn Nhất. Hãng Hàng không Cebu Pacific , Viva Macau và AirAsia là 3 hãng hàng không mới nhất có đường bay đến Tân Sơn Nhất.
Phí sân bay: 14 Đôla Mỹ (cho các chuyến bay quốc tế, tính từ 15 tháng 4, 2006; trước đó là 12 Đôla Mỹ). Từ tháng 11 năm 2006, phí sân bay đã được tính trong vé máy bay. Hành khách không cần phải mua khi đến sân bay như trước đây.
Hiện tại
Sân bay có hai đường CHC song song, trong đó đường CHC 25R dài 3.048 m rộng 45m, đường CHC 25L dài 3.800m rộng 45m, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay của nhiều loại máy bay. Nhà ga quốc tế với tám cầu lồng hàng không (bốn cái nhiều hơn ở nhà ga nội địa) thích ứng với cả những loại máy bay thân rộng bay tầm xa như Boeing 747-400; Boeing 777-200/300; Airbus A 340-300/500/600, Boeing 747 và Boeing 767 .
Nhà ga nội địa
Sau khi khánh thành nhà ga mới, toàn bộ nhà ga quốc tế cũ được chuyển thành nhà ga nội địa . Nhà ga nội địa với 6 cổng ra máy bay , 6 băng chuyền lấy hành lý với diện tích hơn 20000m2 có thể phục vụ tối đa 6 triệu khách mỗi năm .
Nhà ga quốc tế mới
Nhà ga quốc tế mới có công suất tối đa: 15-17 triệu hành khách/năm với tổng dự toán: 260 triệu USD từ vốn ODA Chính phủ Nhật Bản. Tổng thầu thi công là Tổ hợp Liên danh 4 nhà thầu Nhật Bản (KTOM).
Nhà ga có diện tích nhà ga: 93.000 m², trong đó diện tích đường và sân đậu ôtô: 78.000 m², diện tích đường tầng: 10.540 m², diện tích đường công vụ: 13.000 m². Nhà ga được trang bị: 8 lồng đôi dẫn khách cho máy bay cỡ lớn, 6 băng chuyền hành lý, 8 băng tải cho người đi bộ, hệ thống thông báo bay, 18 thang máy và 20 thang cuốn, 43 máy soi chiếu, 10 cổng từ: 20 cổng ra máy bay , có thể đáp ứng cùng 1 lúc 20 chuyến bay vào giờ cao điểm.
Công trình nhà ga quốc tế mới đã được đưa vào sử dụng lúc 12h20 ngày 14 tháng 8 năm 2007 với chuyến bay số hiệu TR 328 của hãng Tiger Airways. Nhà ga này đã phục vụ thử một số hãng quốc tế và sau đó đã được chính thức đưa vào sử dụng chính thức kể từ ngày 2 tháng 9 năm 2007.
Đến năm 2010, dự kiến sân bay này đạt công suất phục vụ theo thiết kế (15-17 triệu khách/năm). Trong vài năm tới, Tân Sơn Nhất có thể sẽ trở thành sân bay chỉ phục vụ cho các chuyến bay trong nước vì Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng một sân bay quốc tế lớn nằm ngoài Thành phố Hồ Chí Minh: Sân bay Quốc tế Long Thành.
Năng lực phục vụ
Năm 2007, nhà ga đã phục vụ 11 triệu lượt khách, chiếm 55% tổng lượng khách (20 triệu) trong các sân bay Việt Nam. Sân bay Tân Sơn Nhất chiếm khoảng 2/3 lượng khách quốc tế đi bằng đường hàng không ở Việt Nam. Do đó sân bay đang chuẩn bị được mở rộng thêm 30 ha chỗ đỗ máy bay để đảm bảo phục vụ lượng khách thông qua từ 15-17 triệu khách năm 2010.
Sân bay Dương Đông là một sân bay ở đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Sân bay có đường cất hạ cánh dài khoảng 2100m x 30 m, có thể tiếp nhận các loại máy bay tầm ngắn như Fokker70, ATR72.
Sân bay Dương Đông là sân bay xếp thứ 6 về lượng khách tại các sân bay Việt Nam. Theo quy hoạch phát triển đảo Phú Quốc đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt, một sân bay mới với tên gọi sân bay Phú Quốc sẽ được xây dựng thay thế sân bay Dương Đông. Sân bay mới sẽ được xây dựng trên diện tích 800 ha, tổng mức đầu tư dự kiến 2000 tỷ đồng.
Sau khi hoàn thành, sân bay Phú Quốc sẽ là sân bay quốc tế, có đường cất hạ cánh 3000m x 50 m, nhà ga công suất 2,5 triệu hành khách/năm. Sân bay Phú Quốc sẽ góp phần phát triển đảo Phú Quốc thành một thiên đường du lịch nghỉ dưỡng và tắm biển. Cùng với sân bay Trà Nóc, sân bay Phú Quốc sẽ giúp vùng đồng bằng sông Cửu Long kết nối trực tiếp với các thành phố trong khu vực châu Á.
Vị trí địa lý
Cảng hàng không Phú Quốc (Tên giao dịch quốc tế: Phu Quoc Airport; Viết tắt: PQC) nằm trên tọa độ quy chiếu 103°57’68” Kinh Đông và 10° 13’26” Vĩ Bắc. Cảng hàng không Phú Quốc nằm trong thị trấn Dương Đông thuộc huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang.
Định hướng phát triển
Hiện tại Cụm cảng hàng không miền Nam đang triển khai ở đảo Phú Quốc một dự án xây dựng sân bay mới vị trí ở Dương Tơ nhằm mục đích sử dụng từ năm 2010 cho các loại máy bay tầm ngắn trung (A 320, A 321, B737...). Qui mô dự án : Cảng hàng không mới đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn 4E theo qui định của ICAO, có đường hạ cất cánh 45m x 3000m, đường lăn song song 23m x 3000m, có hệ thống đường lăn tắt đáp ứng yêu cầu khai thác, đài kiểm soát không lưu, sân đậu máy bay có 6-8 vị trí đậu cho máy bay A 320- A 321 vào giờ cao điểm với diện tích 60000m2; nhà ga hành khách công suất 2 triệu khách/năm có diện tích khoảng 20000 m2; có trang thiết bị điều hành chỉ huy bay và các hạng mục kỹ thuật khác.
18. Sân bay Rạch Giá
Sân bay Rạch Giá nằm ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, cực Tây Nam Việt Nam. Sân bay nhỏ này thuộc sự quản lý của Cụm cảng Hàng không miền Nam (SAA), một cơ quan của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.
- Mã IATA: VKG
- Mã ICAO: VVRG
Vị trí địa lý
Cảng hàng không Rạch Giá thuộc địa phận huyện Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang, ở cách trung tâm thị xã Rạch Giá 7km về phía Nam, cách thị trấn Rạch Sỏi 1km về phía đông; phía đông và phía Tây nam Cảng hàng không là ruộng lúa ao hồ, phía Bắc giáp quốc lộ 80.
Cảng hàng không Rạch Giá nằm trên tọa độ quy chiếu 09057’15” vĩ Bắc và 105008’09” kinh Đông.
Lịch sử
Trước 1975 sân bay Rạch Giá là một căn cứ không quân.
Cơ sở hạ tầng
Cảng hàng không Rạch Giá hiện có một đường hạ cất cánh dài 1.500 mét, rộng 30 mét; Một đường lăn dài 85 mét, rộng 15 mét; Sân đậu máy bay có diện tích 5.500m2 với 5 vị trí đậu cho máy bay; Sân đậu ôtô có diện tích 2.356m2. Nhà ga hành khách có diện tích 426m2. Trang thiết bị phục vụ mặt đất có xe Nạp điện tàu bay, xe chở khách, xe chở hàng, xe cứu thương, xe cứu hỏa.
Công suất hiện tại
Năm 2005, phục vụ 36.744 lượt hành khách đi đến .
Năm 2006, phục vụ 38.000 lượt hành khách đi đến .
Năm 2007, phục vụ 40.000 lượt hành khách đi đến .
Định hướng phát triển
Theo Quyết định phê duyệt qui hoạch tổng thể Cảng hàng không Rạch Giá - Tỉnh Kiên Giang giai đoạn đến 2015, định hướng đến 2025 của Bộ Giao thông vận tải, Cảng Hàng không Rạch Giá đến năm 2015 sẽ là cảng hàng không cấp 3C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp II, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như ATR-72, F 70 và tương đương; Kéo dài đường hạ cất cánh đạt kích thước 1900m x 30m; Mở rộng sân đỗ có diện tích 11.500m2 và xây mới nhà ga hành khách công suất 200 hành khách/giờ cao điểm. Lượng hành khách tiếp nhận là 200.000 lượt hành khách/năm.
Đến giai đoạn 2015-2025, Cảng Hàng không Côn Sơn sẽ là cảng hàng không cấp 4C (theo mã chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO) và sân bay quân sự cấp II, đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay như A320/A321 và tương đương; Xây dựng đường hạ cất cánh mới có kích thước 2400m x 45m; Tận dụng đường hạ cất cánh cũ làm đường lăn song song và xây mới 5 đường lăn nối kích thước 18m x 150m; Mở rộng sân đỗ lên 31.500m2 đáp ứng chỗ đỗ cho 1 máy bay A320/A321 và 4 máy bay ATR72; Mở rộng nhà ga hành khách đạt công suất 300 hành khách/giờ cao điểm; Lượng hành khách tiếp nhận là 300.000 lượt hành khách/năm.
19. Sân bay Cỏ Ống
Sân bay Cỏ Ống (IATA: VCS, ICAO: VVCS) là một sân bay nhỏ tại Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Nhà ga
Đường cách hạ cánh dài 1287 m, đón các loại máy bay tầm ngắn như ATR.
20. Sân bay Cà Mau
Sân bay Cà Mau là một sân bay nhỏ nằm ở thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, một tỉnh cực Nam của Việt Nam.
Sân bay này có đường cất hạ cánh dài khoảng 1500 m.
Tên giao dịch: Ca Mau Airport.
Ký hiệu trong giao dịch hàng không: CMU.
Vị trí
Sân bay Cà Mau thuộc địa phận phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, phía tây cách trung tâm thành phố Cà Mau khoảng 3 km, phía đông cách biển khoảng 45 km. Từ Quốc lộ 1A (đường Lý Thường Kiệt) vào đến sân bay 100 m.
Tọa độ sân bay (Hệ WGS-84): 9° 10’ 38,956’’N; 105° 10’ 33,476’’E.
Đặc điểm
Cảng Hàng không Cà Mau là sân bay vệ tinh, trực thuộc Cụm cảng Hàng không miền Nam. Đây là sân bay hàng không dân dụng cấp 3C có khả năng tiếp nhận các loại máy bay như ATR-72, AN-2, MIA-17, KINGAIR B200 và các loại máy bay khác có trọng tải cất cánh tương đương.
Lịch sử
Sân bay Cà Mau được xây dựng từ thời Pháp, còn gọi là phi trường Moranc, tại thị trấn Quản Long, tỉnh An Xuyên (nay là tỉnh Cà Mau). Khi đó, đường hạ, cất cánh dài 400 mét, rộng 16 mét.
Tháng 6 năm 1962, sân bay này được thiết kế lại với qui mô là 1 sân bay hạng G. Diện tích sân bay là 91,61 hecta, đường hạ cất cánh dài 1050 mét, rộng 30 mét với mục đích phục vụ cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà và Không lực Hoa Kỳ với các loại máy bay như trực thăng, L19, OV10, Dakota, C130 lên xuống.
Sau khi tiếp quản năm 1975, Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam Phùng Thế Tài đã ký quyết định số 1525-QĐ-TC về việc tổ chức biên chế các đơn vị trực thuộc sân bay Tân Sơn Nhất, trong đó nêu rõ sân bay Quản Long thuộc sự quản lý của Cụm sân bay Tân Sơn Nhất và được gọi là Cảng Hàng không Cà Mau. Tuy nhiên, sân bay bị bỏ hoang một thời gian dài đến năm 1995 mới khôi phục chuyển sang mục đích dân sự. Năm 1995 Cụm cảng Hàng không miền Nam tiến hành nâng cấp, xây dựng mới nhà ga và khu nhà văn phòng Cảng Hàng không Cà Mau.
Năm 1999 đường hạ cất cánh, đường lăn, sân đậu tiếp tục được nâng cấp và kéo dài với quy mô đường hạ cất cánh đạt chiều dài 1500 m, rộng 30 m, bề mặt phủ bê tông nhựa đảm bảo tiếp nhận các loại máy bay ATR72 và các máy bay tương đương.
Trước chuyến bay
| |||